Vở chèo Tiếng đàn vùng Mê Thảo và hành trình đi tìm cái đẹp
Cảnh trong vở Tiếng đàn vùng Mê Thảo của rạp hát Chèo Quân đội. Đằng sau mệnh của những người đàn ca là một lẽ sống - tri âm, tri kỷ, là tình ái, tình bạn, tình người sâu nặng. Nhân vật trọng tâm có sức hút kỳ diệu với hầu hết các nhân vật khác của vở diễn Tiếng đàn vùng Mê Thảolà Thị Tơ - một đào hát nổi tiếng, nàng xinh đẹp và duyên dáng, thắm thiết và nhạy cảm, đặc biệt là rất tinh tế. Nàng là hiện thân của cái đẹp thiên nhiên sâu thẳm mà bất cứ ai có dịp tiếp xúc hạnh ngộ đều khát khao mê đắm. Sau một lần gặp nạn, Thị Tơ (nghệ sĩ Thanh Tuyết) được ông Bá Nhỡ (NSƯT Minh Tiến) những người dân ấp Mê Thảo cưu mang. Để trả ơn, nàng đã sống hết mình vì những con người tốt bụng ở cái ấp Mê Thảo này. Nhờ sự tao ngộ với nàng mà ông chủ ấp Mê Thảo (NSƯT Duy Từ) không chỉ có được niềm yên ủi trong sự thanh tao của thú uống trà, mà chợt nhận ra nhiều điều trong mối quan hệ với những người chung quanh, đặc biệt là với người vợ thông minh và tế nhị của mình. Bà chủ ấp (nghệ sĩ Hiền Lương), sau khi Thị Tơ ra đi đã nhận ra một điều quan yếu trong vai trò của một người vợ là mang lại niềm vui và hạnh phúc cho chồng mình bằng những điều giản dị. Thị Tơ cũng chính là nguồn cảm hứng vô tận để Bá Nhỡ có được những khúc nhạc cầm tuyệt bút. Vì có Thị Tơ mà cái ấp Mê Thảo bừng lên sự sống bởi những tiếng hát và tiếng đàn huyền diệu, không có nàng, ngay thức thì nó bị chìm ngập trong bóng tối của sự im lặng đến hãi hùng... Và, trong một tầng sâu hơn thì mối quan hệ của các nhân vật với Thị Tơ còn là cả một cuộc hành trình tìm đến với cái đẹp chân chính để hiểu biết, khám phá, để làm giàu thêm cảm xúc, thanh lọc tâm hồn, tinh khiết, vượt lên trên những gì nhỏ bé, tầm thường với tuốt luốt niềm vui, nỗi buồn, và cả sự trả giá thể hiện ở cái chết của một danh cầm. Cảm tác từ truyện ngắn Chùa đàn của cố nhà văn Nguyễn Tuân, kịch bản văn chương của PGS Tất Thắng vốn giàu tính thi ca với những nhân vật đầy nhựa sống nghệ thuật, cấu trúc mạch lạc. Và khi chuyển thể sang chèo, NSƯT Xuân Hanh và đạo diễn, NSƯT Đào Lê đã phát huy, quán xuyến một hình thái xung đột có thể gọi là mới - từ trong kịch bản, hình thái đó như là sự tiếp nhận một cách sáng tạo mối xung đột trong một số vở chèo cổ: không có sự đối kháng giữa hai lực lượng tốt, xấu, thậm chí chỉ toàn người tốt (mà tiêu biểu là vở Lưu Bình Dương Lễ)... Ngoài việc thêm những làn điệu trữ tình cho thật chính xác với những dạng tâm hồn của các nhân vật trong các tình cảnh, cảnh huống để biểu hiện tính cách của họ, các tác giả đã thêm vào một số cảnh huống hài hước, thậm chí một số nhân vật mới có được dáng dấp những vai hề chèo. Song, tất tật đều được diễn ra như trong một giấc mơ rất thực, mà cũng rất ảo, châm ngòi cho những ký ức bằng những lớp trò diễn khi vui tưng bừng, khi buồn sâu lắng: một cuộc thi danh cầm được tổ chức ngay trong ngày cưới tưng bừng của ông bà chủ ấp, tiếp sau tiếng đàn tài tình của danh cầm Bá Nhỡ là phần dự thi của người ăn mày, cả không gian như lặng đi ngay từ những âm thanh trước nhất được cất lên. Thị Tơ như bị sức hút của tiếng đàn ấy dẫn dụ, nàng bước ra như trong mơ, vừa múa vừa ngâm Canh phúrồi vào hát Vãnvới giọng hát mê li người xem. Hay lớp trò đêm khuya bà chủ ngồi xao trà bên những lò than hồng rực với nỗi thèm khát làm đẹp lòng người chồng yêu quý. Sự vắt đến kiệt lực của bà cũng là một hành trình đi tìm cái đẹp của một người vợ thành ý "người vợ hiền là phải biết cho chứ không chỉ biết nhận"...Khán giả đặc biệt xúc động ở lớp trò cuối, khi Bá Nhỡ vì cái nghĩa với ông chủ, vì tình yêu da diết lặng thầm với Thị Tơ, vì khát khao được nghe tiếng hát bấy nay câm lặng của nàng và vì bị kích động bởi lời nguyền kì bí kia, mà cầm bằng cái chết, kiên quyết nâng cây đàn huyền thoại, đánh lên những tiếng lòng mình bằng năm ngón tay nhỏ máu... Cái chết của người nghệ sĩ tài tình và nhiệt huyết, cái chết làm hồi sinh một con người, một tiếng đàn, một giọng hát... Chừng như không chỉ khiến cho vở tả được hiệu quả gột rửa đối với các nhân vật, mà còn làm thanh lọc tâm hồn của chính khán giả. Tuy vẫn còn vài hạt sạn nhỏ có thể nhặt ra được như ngôn từ văn chương khi chuyển sang chèo đôi chỗ còn thô thiển. Một vài chi tiết có vẻ như để tăng kịch tính, gây quyến rũ thỉnh thoảng còn không thích hợp nên bị bật ra khỏi dòng trữ tình luôn quán xuyến suốt vở diễn. Điều đặc biệt đáng quý, đáng trân trọng là đạo diễn và ê-kíp sáng tạo đã tạo nên một vở chèo ít nhiều còn giữ được cái "thần", cái "hồn" trong truyện Chùa đàncủa nhà văn Nguyễn Tuân. Vở chèo gửi gắm thông điệp: hãy biết trân trọng nếp sống thanh lịch của ông cha trong đời sống văn hóa cùng với những xử sự đầy nhân ái trong các mối quan hệ gia đình và xã hội... Đó cũng là những nét đẹp của truyền thống văn hóa dân tộc mà xã hội hôm nay đang gìn giữ và bảo vệ. Vở chèo Tiếng đàn vùng Mê Thảođã được Hội Nghệ sĩ Việt Nam trao giải đặc biệt cùng ba Huy chương vàng cho các nghệ sĩ: Thanh Tuyết vai Thị Tơ; NSƯT Minh Tiến vai Bá Nhỡ, NSƯT Duy Từ vai Ông chủ và bốn Huy chương bạc cho các nghệ sĩ: Hiền Lương vai Bà chủ; Ngọc Sơn vai Chánh đàn; Thu Hải vai Tít; Đức Hải vai Bộp... Cũng như chính các nhân vật của vở diễn, Nhà hát Chèo Quân đội trong suốt chặng đường lịch sử đã và đang xoành xoạch không ngừng đi kiếm tìm cái đẹp, cái chân, cái thiện cho các tác phẩm nghệ thuật của mình. MINH PHƯỢNG
Nhận xét
Đăng nhận xét